Báo cáo thực tập thuế thu nhập doanh nghiệp (2015) đạt 9 điểm

Thuctaptotnghiep.net giới thiệu báo cáo thực tập tài chính ngân hàng là Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại chi cục thuế quận 6, TP.HCM (2015)

LỜI NÓI ĐẦU

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước: Một nền tài chính quốc gia
lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Tất cả các
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các
hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu
khác. Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc
bởi nhiều điều kiện. Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này
mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng
được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng thu ngân sách. Chính sách thuế được đặt
ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua
thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và
khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh
tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh
các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. Bốn mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ
mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi trong nền kinh tế thị trường hiện đại (Theo Giáo
trình Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, 2008), đó là:
– Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý.
– Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động.
– Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát.
– Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống
pháp luật thuế của Việt Nam, là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng
tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội, là nguồn thu quan trọng của NSNN,
là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chứng năng
điều tiết các hoạt động kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định.
Chính vì thế, thuế TNDN chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN. Ở các nước
phát triển loại thuế chủ yếu này đã làm cho thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
thu Ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, tỷ trọng thuế TNDN trong tổng số thu NSNN
(trừ dầu thô) năm 2006 là 19%, năm 2007 là 17 %, năm 2008 là 20 %, năm 2009 là
16% , năm 2010 là 19%, năm 2011 là 19%, năm 2012 là 20% (Nguồn: Thống kế về
thuế TNDN – Chuyên đề 9: Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020) .
Tuy nhiên, cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế
ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra nguồn thu về
thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN.
Về cơ chế quản lý thuế nói chung và kiểm soát thuế TNDN nói riêng thì Luật
quản lý thuế có hiệu lực nhằm quản lý thuế theo chức năng, người nộp thuế thực hiện
theo cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các khoản
kê khai của mình, vì thế dẫn đến tình trạng gian lận thuế, trốn thuế với nhiều hình thức
tinh vi, khó phát hiện nên thuế TNDN luôn là một trong những mục tiêu gian lận của
doanh nghiệp, mà trong đó, môi trường thể chế và kinh tế chưa hoàn chỉnh như ở Việt
Nam hiện nay, cùng với quy mô hoạt động của doanh nghiệp càng lớn thì rủi ro gian
lận về thuế sẽ càng lớn. Do đó, để hạn chế, giảm thiểu và ngăn chặn những rủi ro trong
gian lận vế thuế nói trên, đó chính là công tác quản lý thuế về cơ chế quản lý, công
nghệ quản lý, tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý nhằm mục tiêu hiện đại hóa
công tác quản lý thuế để có thể theo kịp và đáp ứng sự phát triển nhanh chóng và hiện
đại hóa của doanh nghiệp, để có những biện pháp quản lý và kiểm soát nó một cách
hiệu quả và phù hợp nhất. Trong đó, kiểm soát thuế TNDN có tầm quan trọng hàng đầu
mà tác giả đã chọn đề tài này để nghiên cứu.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện chức năng tái
phân phối thu nhập và nhu cầu tài chính của Nhà nước. Với tình hình kinh tế xã hội
những năm trở lại đây đối mặt với muôn vàn khó khăn, doanh nghiệp hoạt động kém
hiệu quả nên ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thu ngân sách. Trong đó gian lận thuế,
trốn thuế là một trong những nguyên nhân chính là ảnh hưởng đến số thu NSNN hàng
năm của cơ quan thuế. Chúng ta cần phải có những biện pháp quản lý, kiểm soát rủi ro
trong gian lận thuế, trốn thuế một cách hiệu quả và phù hợp nhất trong điều kiện ngành
thuế chưa đầy đủ phương tiện để quản lý kịp thời, chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật thuế
của đối tượng nộp thuế, vì vậy khiến cho hiệu quả kiểm soát thuế TNDN hàng năm của
cơ quan thuế đối với doanh nghiệp đều có mức đạt khá thấp so với kế hoạch, chưa có
lực lượng thanh kiểm tra đủ mạnh và năng lực nhạy bén về chuyên môn nghiệp vụ
thanh kiểm tra để ngăn ngừa được rủi ro tình trạng trốn thuế, gian lận thuế nhằm mục
đích chiếm đoạt tiền thuế.
Tại Quận 6, TP. HCM, tình trạng gian lận thuế nhằm mục đích chiếm đoạt tiền
thuế diễn ra ngày càng nghiêm trọng, làm thất thoát NSNN khá lớn. Vì vậy tôi chọn đề
tài: ”Kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 6, TP. HCM” làm
đề tài nghiên cứu.
Mặc dù tổng số thu ngân sách tại Chi cục thuế Quận 6, TP. HCM tăng từ năm
2010 đến năm 2013 (theo Bảng tình hình số thu Chi cục Thuế Quận 6, TP. HCM –
Nguồn: Phụ lục 6) nhưng tỷ trọng thuế TNDN trên tổng số thu lại thấp và có xu hướng
giảm dần bởi nhiều lý do khách quan và chủ quan, trong đó ngoài việc Chính phủ ban
hành nhiều chính sách ưu đãi, miễn giảm, giản thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tháo
gỡ khó khăn, hỗ trợ cho doanh nghiệp thì cơ chế quản lý thuế nói chung và kiểm soát
thuế thu nhập doanh nghiệp theo chức năng người nộp thuế thực hiện cơ chế tự khai, tự
tính, tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật lại có nhiều bất cập dẫn đến tình
trạng thất thu thuế do gian lận thuế, trốn thuế ngày càng gia tăng, mức độ tinh vi ngày
càng quyết liệt, rất khó phát hiện, điển hình như: khai kết quả SXKD mỗi năm đều lỗ,
dấu bớt doanh thu tính thuế, nâng khống chi phí bằng việc kê khai những khoản chi phí
bất hợp lý vào chi phí được trừ, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, sự dụng bất hợp pháp
hóa đơn, thực hiện chế độ kế toán không thống nhất trong kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp, chuyển giá trong giao dịch kinh doanh giữa các bên liên kết như kinh doanh
thua lỗ nhiều năm liên tục vẫn đầu tư dây chuyền sản xuất, mở rộng phạm vị, quy mô
SXKD, kinh doanh mặt hàng có giá bán thấp hơn nhiều so với mặt hàng cùng chức
năng trên thị trường, nâng khống chi phí đầu vào thông qua các hợp đồng mua nguyên
vật liệu đầu vào với giá cao của chính công ty mẹ.
Chính vì ngành thuế đã và đang chuyển đổi từ mô hình quản lý theo đối tượng
sang mô hình quản lý theo chức năng, người nộp thuế thực hiện cơ chế tự tính, tự khai,
tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trước các khoản kê khai của mình, còn cơ
quan thuế chỉ làm nhiệm vụ tư vấn bằng các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ, theo dõi,
giám sát, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật thuế và áp dụng các chế tài hành chính đối với
các trường hợp vi phạm pháp luật thuế. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, áp dụng
cơ chế này có hiệu quả chưa cao bởi tính tự giác của người nộp thuế hiện còn quá thấp
và thất thoát là điều khó tránh khỏi. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Các
nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận 6,
TP.HCM” để tìm ra các các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát thuế TNDN,
qua đó nhận định các hình thức, hành vi, nguyên nhân gian lận thuế, trốn thuế TNDN
làm luận văn bảo vệ học vị thạc sĩ kế toán của mình.

TẢI TÀI LIỆU VỀ MÁY

Dịch vụ làm thuê báo cáo tốt nghiệp của chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn nhiều bài báo cáo thực tập tốt nghiệp hay mà chúng tôi mới hoàn thành. Hy vọng với những tài liệu này sẽ giúp các bạn trong quá trình viết báo cáo thực tập cua mình

You May Also Like

About the Author: ngok buon